<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rdf:RDF xmlns="http://purl.org/rss/1.0/" xmlns:rdf="http://www.w3.org/1999/02/22-rdf-syntax-ns#" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
<channel rdf:about="http://lib.vinimam.org.vn:8080/handle/123456789/14">
<title>Kỷ yếu Khoa học</title>
<link>http://lib.vinimam.org.vn:8080/handle/123456789/14</link>
<description/>
<items>
<rdf:Seq>
<rdf:li rdf:resource="http://lib.vinimam.org.vn:8080/handle/123456789/488"/>
<rdf:li rdf:resource="http://lib.vinimam.org.vn:8080/handle/123456789/487"/>
<rdf:li rdf:resource="http://lib.vinimam.org.vn:8080/handle/123456789/486"/>
<rdf:li rdf:resource="http://lib.vinimam.org.vn:8080/handle/123456789/485"/>
</rdf:Seq>
</items>
<dc:date>2026-04-27T11:55:25Z</dc:date>
</channel>
<item rdf:about="http://lib.vinimam.org.vn:8080/handle/123456789/488">
<title>Đặc điểm huyết áp 24 giờ ở công nhân dầu khí Vietso Petro làm việc trên các công trình dầu khí ngoài khơi.</title>
<link>http://lib.vinimam.org.vn:8080/handle/123456789/488</link>
<description>Đặc điểm huyết áp 24 giờ ở công nhân dầu khí Vietso Petro làm việc trên các công trình dầu khí ngoài khơi.
Lê Đình Thanh; Đỗ Minh Tiến
1. ĐẶT VẤN ĐỀ.&#13;
&#13;
Tăng huyết áp là một bệnh có nhiều yếu tố 5 nguy cơ đã được xác định, bao gồm: tuổi &gt; 60 (nam giới &gt; 55 và ở nữ giới sau mãn kinh), dư cân hoặc béo phì, đái tháo đường tuýp II, rối loạn lipid máu, tiền sử gia đình, chủng tộc, hút thuốc lá, uống nhiều rượu, sang chấn tâm lý, thói quen ăn mặn, ít hoạt động thể lực. Ngoài các yếu tố nguy cơ kể trên thì một số yếu tố liên quan đến nghề nghiệp, môi trường cũng có ảnh hưởng nhất định đến tần suất mắc bệnh và biến đổi chỉ số huyết áp. Công nhân dầu khí làm việc trên biển ngoài ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ chung ra còn có một số yếu tố không thuận lợi trong nghề nghiệp và môi trường lao động, như mức độ căng thẳng của công việc, chế độ làm việc theo ca kíp, tiếng ồn, rung lắc, độ ẩm và nhiệt độ cao,&#13;
&#13;
chế độ dinh dưỡng thiếu hợp lý. Các yếu tố này tác động gây nên biến đổi huyết áp. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Khảo sát một số đặc điểm về hình thải và chỉ số huyết áp 24 giờ ở người bình thường và người tăng huyết áp là công nhân dầu khí làm việc trên các công trình khoan và khai thác dầu khi ngoài khơi.&#13;
&#13;
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.&#13;
&#13;
2.1. Đối tượng nghiên cứu:&#13;
&#13;
Là người lao động thuộc ngành dầu khí làm việc trên các công trình khoan và khai thác dầu khí ngoài khơi vùng biển Vũng Tầu.&#13;
&#13;
Nhóm 1: gồm 51 người có huyết áp bình thường, khỏe mạnh được xác định bằng phương pháp đo HA lâm sàng qui chuẩn (CBP &lt; 140/90 mmHg).&#13;
&#13;
Nhóm 2: gồm 120 người tăng huyết áp được lựa chọn một cách ngẫu nhiên trong số những người THA được xác định bằng phương pháp đo HA lâm sàng qui chuẩn ( CBP ≥ 140/90 mmHg)&#13;
&#13;
2.2. Phương pháp nghin cou: + Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu, mô tả cắt ngang&#13;
&#13;
+ Địa điểm nghiên cứu: trung tâm y tế Vietsovpetro, Tp. Vũng Tầu.
21cm, tr196-tr201, Y học thực hành số 588, 2007
</description>
<dc:date>2007-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item rdf:about="http://lib.vinimam.org.vn:8080/handle/123456789/487">
<title>Nghiên cứu phương tuyển chọn khả năng chịu sóng cho thuyền viên</title>
<link>http://lib.vinimam.org.vn:8080/handle/123456789/487</link>
<description>Nghiên cứu phương tuyển chọn khả năng chịu sóng cho thuyền viên
Trần Thị Quỳnh Chi; Nguyễn Trường Sơn
Lao động trong bất kỳ ngành nào cũng đều chịu ảnh hưởng bởi tác động của môi trường. Đặc biệt ở môi trường lao động trên biển, một môi trường khác biệt hẳn với đất liền, các đối tượng lao động ngày cũng như đêm phải sống và làm việc trong những điều kiện hết sức khó khăn với tác động liên tục của sóng, gió và đôi khi cả giông, bão. Tác động của sóng gây ra các rung xóc, lắc liên tục làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ và khả năng lao động của người đi biển, nó là nguyên nhân gây ra một chứng bệnh rất đặc thù của người đi biển, đó là chứng bệnh say sóng (Seasickness).&#13;
&#13;
Nhiều tác giả trong và ngoài nước, Nguyễn Văn Hoan (1977) Nguyễn Trường Sơn và cs (2002, 2004, 2005), một số tác giả người Ba Lan R.Dolmierski, R.Nitka [ ] và các cộng sự đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác động của sóng đến cơ thể thuyền viên, nghiên cứu những biến đổi mang tính chất đặc trưng của những người bị say sóng hoặc chịu được sóng. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về vấn đề này. morta&#13;
&#13;
Năm 2005-2006, Viện Y học biển đã nghiên cứu chế tạo Thiết bị thử nghiệm khả năng chịu sóng với tính năng có thể tạo tác động tương tự tác động của sóng cấp 6, cấp 7 với gia tốc góc và hướng tâm. Bằng thiết bị này, trong thời gian qua, Viện Y học biển đã nghiên cứu tác động của sóng đến cơ thể thuyền viên một cách toàn diện hơn với các dấu hiệu biến đổi đặc trưng của từng nhóm có khả năng chịu sóng khác nhau. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm các mục tiêu sau: 1- Nghiên cứu, xác định một số chỉ tiêu đặc trưng về biến đổi lâm sàng và một số chức&#13;
&#13;
năng sinh lý của các thuyền viên bằng thiết bị thử sóng.&#13;
&#13;
Trên cơ sở đó, xây dựng phương pháp tuyển chọn khả năng chịu sóng cho thuyền viên.
21cm, tr 185-tr195, y học thực hành số 588,2007
</description>
<dc:date>2007-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item rdf:about="http://lib.vinimam.org.vn:8080/handle/123456789/486">
<title>Nghiên cứu chế tạo thiết bị thử nghiệm khả năng chịu sóng cho người đi biển</title>
<link>http://lib.vinimam.org.vn:8080/handle/123456789/486</link>
<description>Nghiên cứu chế tạo thiết bị thử nghiệm khả năng chịu sóng cho người đi biển
Nguyễn Trường Sơn; Hoàng Kim Ngọc; Trần Thị Quỳnh Chi
Kinh tế biển của nước ta ngày càng có những đóng góp to lớn cho nền kinh tế đất nước. Đến nay, đóng góp từ khu vực kinh tế biển cho nền kinh tế quốc dân đã lên đến gần 50% GDP của đất nước. Phục vụ trực tiếp trong các ngành kinh tế biển này là hàng triệu lao động, số lượng này có xu hướng ngày càng gia tăng theo sự phát triển của kinh tế biển nước nhà.&#13;
&#13;
Tất cả những lao động của nước ta thường xuyên phải sống và làm việc trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt của khí hậu biển cả, của môi trường lao động trên các tàu biển, giàn khoan, các hải đảo... Trong khi đó điều kiện chăm sóc về y tế lại hết sức khó khăn.&#13;
&#13;
Môi trường lao động trên biển là một môi trường đặc biệt khó khăn, không phải đối tượng nào muốn đi biển cũng chịu đựng được, đặc biệt là tác động của sóng biển có thể làm cho nhiều người bị say không giảm đi biển chứ chưa nói đến có thể làm việc trên biển. Làm cách nào để hạn chế khả năng tác động của sóng biển đối với người lao động trên biển và có thể chọn lựa được những người có thể chịu được sóng biển để lao động trong các ngành nghề kinh tế biển, từ lâu đã được các nhà khoa học trong nước quan tâm.&#13;
&#13;
Từ xưa tới nay nhiều nước trên thế giới chỉ quan tâm đến nghiên cứu biện pháp đánh giá độ bền vững tiền đình sử dụng trong khác tuyển cho phi công. Còn việc khám tuyển khả năng chịu sống cho người đi biển chưa được mấy nước quan tâm mà chỉ có các trường đào tạo nghề đi biển quan tâm vấn đề này theo cách là sau khi đào tạo nghề một số năm, sau đó cho thuyền viên xuống tầu đi thực tế trên biển dài ngày. Trong quá trình này những người không chịu được sóng sẽ bị loại. Cách tuyển chọn khả năng chịu sóng này phải mất thời gian quá dài, gây ra sự lãng phí&#13;
&#13;
đào tạo không cần thiết. Khi nghiên cứu về cơ chế say sóng, hầu hết các tác giả đều thống nhất cho rằng say sóng có&#13;
&#13;
liên quan chặt chẽ với tình trạng rối loạn hoạt động của bộ máy tiền đình và và hệ thần kinh thực vật và khi bị say sóng cơ thể có những biểu hiện rất rõ tình trạng rối loạn các chức năng này của cơ thể. Từ những lý luận trên chúng tôi hình thành ý tưởng nghiên cứu chế tạo một dụng cụ có khả năng tạo ra những tác động đến cơ thể giống như tác động của sóng biển, cho thuyền viên thử nghiệm với thiết bị này rồi quan sát những thay đổi về lâm sàng, chức năng tiền đình và chức năng của hệ thần kinh thực vật để tìm ra khả năng chịu sóng khác nhau của từng đối tượng. Mục tiêu nghiên cứu:&#13;
&#13;
Nghiên cứu nguyên lý của thiết bị tạo ra tác dụng như sóng biển.&#13;
&#13;
Chế tạo thiết bị thử sống để tuyển chọn khả năng chịu sống cho thuyền viên.&#13;
&#13;
Đánh giá thực tế khả năng làm việc của thiết bị.&#13;
&#13;
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CHẾ TẠO&#13;
&#13;
2.1. Nghiên cứu nguyên lý của thiết bị
21cm, tr182-tr184, Y học thực hành số 588, 2007
</description>
<dc:date>2007-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item rdf:about="http://lib.vinimam.org.vn:8080/handle/123456789/485">
<title>Đánh giá tình trạng vệ sinh môi trường và các dịch vụ chăm sóc bảo vệ  sức khỏe cho khách du lịch ở tỉnh Khánh Hòa(2002-2004)</title>
<link>http://lib.vinimam.org.vn:8080/handle/123456789/485</link>
<description>Đánh giá tình trạng vệ sinh môi trường và các dịch vụ chăm sóc bảo vệ  sức khỏe cho khách du lịch ở tỉnh Khánh Hòa(2002-2004)
Phùng Thị Thanh Tú; Viên Chinh Chiến; Trương Công Luận; Trịnh Thị Bích Thủy; Nguyễn Thị Ngọc Huê; Nguyễn Thị Hồng Tú; Trương Tấn Minh
Kinh tế biển đảo (KTBĐ) của Việt Nam đang phát triển mạnh. Du lịch biển (DLB) là một ngành KTBĐ rất phát triển ở miền Trung nhưng chưa hình thành hệ thống cấp cứu trên biển, làm cho việc cứu chữa các bệnh nhân và nạn nhân khách du lịch ở biển đảo khó khăn. Với Khánh Hòa, Y học biển sẽ khởi sắc bằng các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe cho khách du lịch sinh thái biển đảo (DLSTBĐ). Ngành DLB đạt hiệu qua rất cao, thu hút nhiều du khách trong ngoài nước. Hiện nay, công tác bảo vệ môi trường (BVMT) và các phương tiện giao thông thuỷ (PTGTT ) tại các khu du lịch biển đảo (KDLBĐ) còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Hàng năm, tại các bãi biển của Nha Trang Khánh Hòa có nhiều du khách bị chết đuối; một số đào có người chết do tai nạn của dịch vụ mô tô nước. Từ 1999 - 7/2002 tại bãi tắm Nha Trang, bãi tắm Hòn Tầm và bãi tắm Hòn Mun có 12 vụ chết người; từ năm 2000 - 6/2002 tại biển Đại Lãnh huyện Vạn Ninh có 9 người chết đuối. Rác thải gây ô nhiễm bờ biển (ÔNBB) và thực phẩm (TP) bị nhiễm bẩn làm chúng ta quan tâm lo lắng. Chính vì vậy chúng tôi nghiên cứu để tài này nhằm mục tiêu:&#13;
&#13;
Đánh giá tình trạng vệ sinh môi trường, dịch vụ CSSKcho khách du lịch tại các Khu du lịch biển đảo; xác định các vấn đề xã hội liên quan đến tâm lý, sức khỏe kh, ch du lịch &amp; các hoạt động của các đội cứu hộ tại các điểm nghiên cứu Từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu qủa của các dịch vụ CSSK cho&#13;
&#13;
Khách DL ở Khánh Hòa.&#13;
&#13;
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU&#13;
&#13;
2.1. Đối tượng nghiên cứu : DK trong và ngoài nước, các nhà hàng, khách sạn, thực phẩm và&#13;
&#13;
nước sinh hoạt tại các KDLBD KH. 2.2. Phương pháp nghiên cứu :&#13;
&#13;
* Thiết kế nghiên cứu:&#13;
&#13;
- Điều tra theo phương pháp cắt ngang. - Mỗi nội dung có cỡ mẫu tương ứng.&#13;
&#13;
* Địa bàn NC : Chọn 9 điểm ( bãi biển NT, bến đò Vĩnh Nguyên, bãi tắm Hòn Chồng, Thủy cung Trí Nguyên, KDL Con Sẻ Tre, KDL Hòn Tằm, KDL Hòn Mun, KDL Dốc Lết, KDL Đại&#13;
&#13;
Lãnh).&#13;
&#13;
* Cỡ mẫu NC : Tình trạng VSMT chọn 30 cụm ngẫu nhiên trong 9 điểm; chất lượng không khi (CLKK): mỗi điểm NC đo 2 đợt theo 2 mùa gồm 150 mẫu; chất lượng nước: 30 mẫu nước ngọt, nước biển tại bãi tắm; VSTP : 90 mẫu thực phẩm chế biến (TPCB) tại các nhà hàng, 30 mẫu TP bán rong. Điều tra các dịch vụ du lịch (DVDL) : 30 nhà vệ sinh, 30 nhà tắm nước ngọt tại 9 cửa hàng, khách sạn... Điều tra DK: lấy mẫu ngẫu nhiên với cỡ mẫu n = 2400 người. * Kỹ thuật nghiên cứu (KTNC) - Sử dụng kỹ thuật của Viện YHLĐ để xác định CL KK và nước, XN VSTP theo TCVN
21cm, tr176-tr181,Y học thực hành số 588, 2007
</description>
<dc:date>2007-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
</rdf:RDF>
